top of page
Tìm kiếm

CÓ BAO NHIÊU HÊ-RỐT TRONG KINH THÁNH TÂN ƯỚC?


(Agrippa II nghe tin từ sứ đồ Phao-lô trong bức tranh “Sứ đồ Phao-lô bị xét xử” của Nikolai Bodarevsky)


Hê-rốt được nhắc đến gần 50 lần trong Tân Ước, nhưng Kinh thánh không chỉ nói về một người.


Herod Đại đế và dòng dõi của ông nổi bật trong lịch sử của Judea cổ đại. Trên thực tế, thời kỳ của các vua Hê-rốt này được tìm thấy trong lịch sử và được ghi chép đầy đủ trong các bản ghi chép cổ. Những người cai trị này đã giúp đóng vai trò là dấu mốc thời gian đáng tin cậy khi xác định niên đại cho các sự kiện được ghi lại trong các sách Phúc âm và sách Công vụ.

Sự nổi bật của họ trong cả lịch sử thế tục và trong câu chuyện Kinh thánh khiến việc hiểu lịch sử của những Herodians trở nên quan trọng để hiểu rõ hơn về thời Tân Ước.


Có năm vị vua khác nhau mang tên là Hê-rốt được nhắc đến trong Kinh thánh: Hê-rốt Đại đế, các con trai của ông là Hê-rốt Archelaus và Hê-rốt Antipas, và các cháu trai của ông là Hê-rốt Agrippa I và Hê-rốt Agrippa II. Người thứ sau là Hê-rốt Phi-líp, nhưng ông chỉ được nhắc đến đơn giản là Phi-líp trong Mác 6:17 .


HÊ-RỐT ĐẠI ĐẾ (73 TCN – 4 TCN)


Hê-rốt Đại đế là một người cai trị Judea trong thời kỳ La Mã. Mặc dù là người gốc Idumean (Người Ê-đôm từ Edom, phía nam Biển Chết), Hê-rốt được chính quyền La Mã bổ nhiệm làm người cai trị. Việc ông không phải là người Do Thái, cùng với cách cai trị tàn ác đáng chú ý của ông, khiến ông bị người Do Thái phần lớn không tin tưởng và phẫn nộ.


Hê-rốt này khét tiếng vì sự tàn ác của ông ta khi tàn sát những đứa trẻ ở Bethlehem.


“Vua Hê-rốt thấy mình đã bị mấy thầy bác sĩ đánh lừa, thì tức giận quá, bèn sai giết hết thảy con trai từ hai tuổi sấp xuống ở thành Bết-lê-hem và cả hạt, theo đúng ngày tháng mà mấy thầy bác sĩ đã cho vua biết.” ( Ma-thi-ơ 2:16-17 ).


Mặc dù vậy, Hê-rốt cũng đã cố gắng đóng góp theo một số cách tích cực cho nền văn hóa Do Thái. Ông là người đã củng cố hệ thống phòng thủ của Jerusalem, xây dựng một thành phố cảng có tên là Caesarea, và thậm chí là xây dựng lại Đền thờ.

Tuy nhiên, các dự án xây dựng đồ sộ của ông đã không cải thiện được hình ảnh của ông trước công chúng, vì chúng được tài trợ thông qua các khoản thuế nặng nề. Việc đánh thuế liên tục này đã góp phần rất lớn vào việc người Do Thái không thích những người thu thuế, những người bị coi là kẻ phản bội vì đã phục vụ cho phe Hê-rốt.


Sau cái chết của Hê-rốt, các con trai của ông là Archelaus, Herod Antipas và Herod Philip, chia quyền kiểm soát Palestine. Hai trong số những người con trai này, Archelaus và Herod Antipas, được nhìn thấy nhiều lần trong các sự kiện của Tân Ước.



HEROD ARCHELAUS (23 TCN – 18 SCN)


Với tư cách là một tộc trưởng (một người không phải là Vua phụ trách một nhóm dân tộc trong một vùng) Archelaus phụ trách Judea, Samaria và Idumea (Ê-đôm). Tuy nhiên, Hê-rốt A-chê-la-u (Archelaus) không nắm quyền lâu. Ông chỉ giữ chức vụ của mình từ năm 4 trước Công nguyên cho đến khi bị phế truất vào năm 6 sau Công nguyên, khi người Do Thái yêu cầu Caesar Augustus thay thế ông.

Mặc dù vậy, Archelaus đã ảnh hưởng đến lịch sử của Tân Ước. Chính nỗi sợ hãi về triều đại của Ngài ở Giu-đê đã khiến Giô-sép, Ma-ri và Chúa Giê-su sống ở Ga-li-lê hơn là ở Giu-đê.


“Giô-sép bèn chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trở về xứ Y-sơ-ra-ên. Song khi nghe vua A-chê-la-u nối ngôi vua cha là Hê-rốt mà trị vì tại xứ Giu-đê, thì Giô-sép sợ, không dám về; và bởi đã được Đức Chúa Trời mách bảo trong chiêm bao, nên người vào xứ Ga-li-lê,”( Ma-thi-ơ 2:21-22 ) .


HEROD ANTIPAS (Trước năm 20 TCN – 39 SCN)


Hê-rốt Antipas trở thành tứ vương của Ga-li-lê và Pê-rê từ năm 4 trước Công nguyên đến năm 39 sau Công nguyên, ông là một trong bốn nhà cai trị khu vực được chỉ định. Trong Tân Ước, anh ta đã bị John the Baptist quở trách vì đã lấy vợ của người anh cùng cha khác mẹ của mình, Philip:


Vì chính Hê-rốt đã sai bắt Giăng và trói ông vào ngục vì Hê-rô-đia, vợ của Philip, anh ông, vì ông đã lấy bà làm vợ. Vì Giăng đã nói với Hêrôđê


“Số là, Hê-rốt đã sai người bắt Giăng, và truyền xiềng lại cầm trong ngục, bởi cớ Hê-rô-đia, vợ Phi-líp em vua, vì vua đã cưới nàng, và Giăng có can vua rằng: Vua không nên lấy vợ em mình. Nhân đó, Hê-rô-đia căm Giăng, muốn giết đi. Nhưng không thể giết, vì Hê-rốt sợ Giăng, biết là một người công bình và thánh. Vua vẫn gìn giữ người, khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà vua bằng lòng nghe.” ( Mác 6:17-20 ).


“Con Gái Hêrôđê Đón Đầu Gioan Tẩy Giả” của Gustave Doré

Antipas đã chặt đầu John để thực hiện lời thề đã thề với con gái mình ( Mác 6:20-29 ) và sau đó lo lắng rằng Chúa Giê-xu chính là Giăng Báp-tít sống lại từ cõi chết ( Ma-thi-ơ 14:1-12 ).


Bất chấp sự hiểu lầm này, Phúc âm Lu-ca ghi lại rằng Hê-rốt An-ti-ba muốn thấy Chúa Giê-su làm phép lạ, và rất vui khi được những kẻ tố cáo dẫn Đấng Christ đến trước mặt mình ( Lu-ca 23:7-12 ).

Tuy nhiên, Chúa Giê-su không thực hiện phép lạ nào cũng như không trả lời bất kỳ câu hỏi nào và được gửi đến Pontius Pilate (Bôn-xơ-phi-lát ). Antipas không phải là một nhà cai trị mạnh mẽ và cuối cùng bị đày đến nước Pháp hiện đại, khi đó được gọi là Gaul.


HEROD AGRIPPA I (12 TCN – 44 SCN)


Dòng Herodian được tiếp tục bởi Herod Agrippa (Ạc-ríp-ba) I và II. Hê-rốt Ạc-ríp-ba I là cháu nội của Hê-rốt Đại đế và cũng lấy tên là vua Hê-rốt. Sự tham nhũng của Hê-rốt Ạc-ríp-ba I khiến Hê-rốt Ạc-ríp-ba I phải ngồi tù ở Rome, nhưng tình bạn của anh ta với Caligula đã giúp anh ta phục hồi quyền lực.


Hê-rốt Ạc-ríp-ba tìm cách duy trì vị thế tốt với người Do Thái, cuối cùng nhận được sự tôn trọng của cả người Sa-đu-sê và người Pha-ri-si. Anh ta xuất hiện trong Tân Ước ở Công vụ 12: 1-3 khi anh ta giết Gia-cơ và Phi-e-rơ bị cầm tù. Cuối cùng Hê-rốt Ạc-ríp-ba I bị đánh gục vì đã không tôn vinh Chúa.


“Vả, vua Hê-rốt căm giận dân thành Ty-rơ và dân thành Si-đôn. Chúng đã được lòng quan hầu của vua là Ba-la-tút rồi, bèn đồng lòng đến cùng vua mà xin hòa, vì xứ họ ăn nhờ lương thực trong xứ vua. Đến kỳ, vua Hê-rốt mặc áo chầu, ngồi trên ngai, truyền phán giữa công chúng. Dân chúng kêu lên rằng: Ấy là tiếng của một thần, chẳng phải tiếng người ta đâu! Liền lúc đó, có thiên sứ của Chúa đánh vua Hê-rốt, bởi cớ chẳng nhường sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời; và vua bị trùng đục mà chết. ( Công vụ 12:21-23 ).



( Cái chết của Herod Agrippa bởi Jan Luyken và Pieter Mortier )


HEROD AGRIPPA II (27 SCN ​​– 100 SCN)


Khi đã đủ lớn, Hê-rốt Agrippa II lên nắm quyền từ tay các quan kiểm sát tham nhũng đang nắm giữ vị trí của ông. Ông là người cuối cùng trong số những người theo phe Hê-rốt cai trị Palestine, qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên. Được thấy trong Công vụ 25-26 , chính Agrippa II đã có lời nhận xét nổi tiếng với Phao-lô,


“Vua Ạc-ríp-ba phán cùng Phao-lô rằng: Thiếu chút nữa ngươi khuyên ta trở nên tín đồ Đấng Christ! Phao-lô tâu: Cầu xin Đức Chúa Trời, chẳng kíp thì chầy, không những một mình vua, nhưng hết thảy mọi người nghe tôi hôm nay đều trở nên như tôi, chỉ trừ bỏ xiềng nầy thôi!” (Công vụ 26:28-29 ) .


Ạc-ríp-ba II không thấy Phao-lô có lỗi gì đáng bị bỏ tù và nhận xét rằng ông có thể được thả nếu ông không kháng cáo trước Sê-sa ( Công vụ 26:32 ).


Với năm người đàn ông được gọi là Hê-rốt trong Kinh thánh (sáu người, nếu tính Hê-rốt Phillip được đề cập đơn giản là Phi-líp trong Mác 6:17 ). Hê-rốt Đại đế và dòng dõi của ông đã ảnh hưởng lớn đến bối cảnh chính trị và xã hội của thời kỳ này và đóng góp vào lịch sử Do Thái giáo và các sự kiện của Tân Ước theo nhiều cách.


Hiểu được tầm ảnh hưởng của mỗi nhà cai trị lỗi lạc này cho phép chúng ta hiểu rõ hơn về khuôn khổ mà Chúa Giê-su đã sống và rao giảng.


Mục vụ Do Thái.


Comentários


bottom of page